|
Trần Tiễn Khanh và Nguyễn Khoa Diệu-Lê (10/2001) |
|
Đây là bài đầu tiên trong loạt bài Nguyên Nhân Lũ Lụt Lớn ở Việt Nam. Hai bài khác trình bày nguyên nhân lũ lụt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long và Đồng Bằng Sông Hồng. Mục đích của loạt bài là tìm hiểu nguyên nhân gây nên lũ lụt một cách khoa học và khách quan, để đề phòng lũ lụt một cách hữu hiệu và giảm thiểu các tổn thất. Miền Trung là miền kém mở
mang kinh tế lại bị nhiều thiên tai hơn hai miền Bắc và
miền Nam. Người dân miền Trung quen thuộc với cảnh “Tháng
Bảy nước nhảy lên bờ” vì “Trời hành cơn lụt
mỗi năm”. Những năm gần đây đã có những trận
lũ lụt lớn chưa từng thấy xảy ra ở các tỉnh ven biển.
Đặc biệt là hai cơn lũ lụt liên tiếp từ đầu tháng 11
đến đầu tháng 12 năm 1999 được gọi cơn lũ thế kỷ. Hai
cơn lũ này đã làm gần 750 người thiệt mạng và tổn thất
tài sản và mùa màng lên đến 300 triệu Mỷ Kim. Bão lụt
cũng đã làm thiệt mạng gần 450 nguời năm 1998 và 400 người
năm 1996. Ngoài ra, lũ lụt cũng đã gây nên những thiệt hại
to tát về nhà cửa, mùa màng, cầu cống và đường xá, làm
cho một xứ đã nghèo về phương diện kinh tế lại càng nghèo
hơn. Miền Trung ở trong một vòng lẩn quẩn vì thiên tai bão
lụt xảy ra thường xuyên nên phát triển kinh tế gặp phải
khó khăn.
Hàng năm những trận bão biển
và gió mùa Đông Bắc đã gây nên những trận mưa lớn ở
miền Trung. Những năm gần đây, do ảnh hưỡng của biến
động thời tiết trên toàn thế giới như dòng nước El
Nino và La Nina, những trận bão biển và mưa lớn xảy ra càng
khốc liệt hơn. Mùa bão thường kéo dài từ tháng 8 đến
tháng 11, và trung bình hàng năm có 4 cơn bão. Trong những
năm 1995-1999, miền Trung đã chịu ảnh hưỡng của 13 cơn bão,
5 áp thấp nhiệt đới và 23 đợt gió mùa Đông Bắc. Những
cơn bão biển và áp thấp nhiệt đới này thường xuất
phát từ Phi Luật Tân rồi 3-4 ngày sau sang đến bờ biển
nước ta. Đặc biệt vào năm 1999, những trận mưa liên tục từ 18 tháng 10 đến 6 tháng 11 đã nâng mực nước các sông lớn ở miền Trung đến độ cao chưa từng thấy. Gần 1.4 m (1384 mm) nước mưa đã đổ xuống thành phố Huế trong vòng 24 giờ (từ 7 giờ sáng ngày 2 đến 7 giờ sáng ngày 3 tháng 11) , làm mực nước Sông Hương lên cao gần 6 m, cao hơn mực nước trận lụt năm 1953 đến 0.46 m. Lượng nước mưa vào ngày 2 tháng 11 tại Huế là lượng nước mưa lớn thứ nhì trên thế giới, sau kỷ lục 1870 mm đo được tại Cilaos, đảo Réunion vào ngày 16 tháng 3 năm 1952. Tiếp đến là các trận mưa lớn đã xãy ra từ ngày 1 đến 7 tháng 12, nhất là ở hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Lượng nước mưa lên đến 2192 mm ở thượng lưu Sông Tam Kỳ và 2011 mm ở gần Ba Tơ. Đặc điễm của trận lụt năm 1999 là nước lũ dâng cao rất mau nhưng xuống chậm, làm nhiều nơi bị lụt ngập đến 3-4 ngày. Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu cũng như ở đồng bằng, còn có nhiều lý do thường được nhắc đến như nạn phá rừng, việc khai thác cát sỏi và hệ thống đê đập. Ảnh hưởng của nạn phá
rừng đối với lũ lụt đã và đang được tranh luận trên
khắp thế giới. Theo Cơ quan Lương Nông của Liên Hiêp Quốc
(FAO), mức độ phá rừng cao nhất xảy ra ở Á Châu, từ 9.5%
trong thập niên 1960 đến 11% trong thập niên 1980. Cũng như
nhiều nơi khác trong nước, rừng ở các tỉnh miền Trung đang
bị tàn phá một cách nghiêm trọng. Hiện nay diện tích rừng
chỉ còn khoảng 40 phần trăm. Các cuộc nghiên cứu và điều
tra ở Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi khác trên thế giới đã
chứng minh rằng nguyên nhân hàng đầu của lũ lụt là có
quá nhiều mưa xảy ra trong một thời gian ngắn ngủi, và việc
phá rừng có thể ảnh hưởng quan trọng đối với lũ lụt
trong các lưu vực hạn hẹp như ở miền Trung. Cây cối có
khả năng giử nước cũng như giảm thiểu việc đất đai
sụt lở. Lượng nước lũ ở một vùng có nhiều cây cối
sẻ ít hơn lượng nước lũ từ một vùng trơ trọi. Vì thế
nạn phá rừng có thể gia tăng mực nước ở các vùng hạ
lưu. Việc khai thác bừa bải cát sỏi ở các dòng sông cũng gia tăng mức độ của lũ lụt. Tình trạng này làm cho nhiều đoạn bờ sông bị sụt lở nghiêm trọng. Việc sụt lở các bờ sông cũng như việc bồi lấp các cửa sông cản trở việc thoát lũ, làm cho lũ lụt lớn hơn và lâu hơn. Điển hình là vụ sụt lở bờ sông Vu Gia làm cho một khu dân cư ở huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam bị cuốn trôi trong cơn lũ năm 1999 vừa qua. Khác với Sông Hồng ở miền Bắc (xin xem bài Nguyên Nhân Lũ Lụt ở Đồng Bằng Sông Hồng) và sông Cửu Long ở miền Nam (xin xem bài Nguyên Nhân Lũ Lụt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long), các sông ngòi ở miền Trung không có hệ thống đê để ngăn lũ. Ngoài ra cũng không có các hồ chứa nước lớn ở vùng thượng lưu để giảm thiểu lũ lụt ở vùng đồng bằng. Cho nên các khu đông dân cư ở hai bên bờ sông đành chịu ngập tràn mỗi khi có mưa to. Nói tóm lại nguyên nhân
chính của lũ lụt ở miền Trung là những trận mưa lớn ở
thượng lưu và vùng đồng bằng. Các nguyên nhân khác như
nạn phá rừng chỉ có thể làm lũ lụt trầm trọng hơn mà
thội. Những trận mưa lớn do các cơn bão biển Đông và gió
mùa Đông Bắc gây nên. Từ tháng 7 năm 2001, chúng tôi đã
thành lập một trang Web tên
http://www.vnbaolut.com
để cung cấp miễn phí các dự báo bão biển và gió mùa.
Hàng ngày trang Web VNBAOLUT.COM cho biết thời tiết trước
48 tiếng đồng hồ ở 60 tỉnh thành từ Lạng Sơn đến Cà
Mâu. Các dự báo được cập nhật bốn lần trong ngày (1 giờ,
7 giờ, 13 giờ và 19 giờ) và có thể tự động gởi qua e-mail.
Một mô hình tối tân và chính xác nhất hiện nay, mô hình
MM5, được dùng để làm các dự báo. Ngoài ra trang Web VNBAOLUT.COM
còn cung cấp ảnh vệ tinh và tin tức thời tiết mới nhất.
Tất cả các dịch vụ nói trên đều miển phí. Công việc
làm các dự báo hoàn toàn thiện nguyện và vô vị lợi. Chúng
tôi chỉ mong được giúp đở phần nào các đồng bào ở
những vùng thường hay có bão lụt như miền Trung.
|
|
![]() |
![]() |
Lộ Trình Bão Biển Eve và Hình Vệ Tinh gần Đà Nẳng (19 tháng 10, 1999)